Chuyên đề những vấn đề cơ bản về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay

pdf 34 trang manhthi 23/10/2022 8003
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Chuyên đề những vấn đề cơ bản về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfchuyen_de_nhung_van_de_co_ban_ve_to_chuc_bo_may_cua_he_thong.pdf

Nội dung text: Chuyên đề những vấn đề cơ bản về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay

  1. Chuyên đề NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC, BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY I. KHÁI QUÁT CHUNG Hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm đảng chính trị, nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội và mối quan hệ tác động qua lại giữa các tổ chức trong việc tham gia vào quá trình hoạch định, tổ chức triển khai đường lối, chính sách, quyết sách chính trị nhằm bảo đảm thực thi quyền lực chính trị của đảng cầm quyền, phục vụ lợi ích của nhân dân và ổn định, phát triển xã hội. Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú về phẩm chất, năng lực và uy tín vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là cán bộ chủ chốt và người đứng đầu. Đảng thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn nhằm không ngừng nâng cao năng lực cầm quyền, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị. 1
  2. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Các tổ chức và đảng viên của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Tổ chức đảng và đảng viên công tác trong cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chấp hành nghiêm chỉnh các đường lối, quan điểm, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng; chịu trách nhiệm thể chế hoá, cụ thể hoá đường lối, quan điểm, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, chủ trương, chính sách của đoàn thể và lãnh đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả. Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước được tổ chức, hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương. Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; không ngừng hoàn thiện cơ chế và biện pháp nhằm kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền. 2
  3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là tổ chức lãnh đạo Mặt trận. Mặt trận hoạt động theo phương thức hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên. Các tổ chức chính trị - xã hội gồm Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước. Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các tổ chức. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các tổ chức nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội. II. TỔ CHỨC BỘ MÁY HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Hệ thống tổ chức của Đảng Tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập và hoạt động theo Điều lệ Đảng, các văn bản của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hệ thống chính trị và xã hội. Các tổ 3
  4. chức của Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không được trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Ðảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên. Hệ thống tổ chức của Đảng gồm: Cơ quan lãnh đạo của Đảng (đại hội đảng các cấp; cấp ủy các cấp; đảng đoàn, ban cán sự đảng ở Trung ương và cấp tỉnh); hệ thống các đảng bộ, chi bộ; các cơ quan tham mưu, giúp việc chuyên trách của cấp ủy; các đơn vị sự nghiệp của Đảng Hệ thống tổ chức của Đảng được tổ chức chặt chẽ và bao quát tất cả các lĩnh vực, địa bàn; tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác từng bước được hoàn thiện, bảo đảm và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội. 1.1. Các cơ quan lãnh đạo của Đảng a. Đại hội Đảng các cấp - Đại hội đại biểu toàn quốc là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, do Ban Chấp hành Trung ương triệu tập thường lệ 5 năm một lần; có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn, nhưng không quá một năm. Đại hội đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết của nhiệm kỳ vừa qua; quyết định đường lối, chính sách của đảng nhiệm kỳ tới; bầu Ban Chấp hành Trung ương, số lượng Ủy viên Trung ương chính thức và Ủy viên Trung ương dự khuyết do Ðại hội quyết định; bổ sung, sửa đổi Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng. Đại hội Đại biểu toàn quốc bất thường có thể được triệu tập khi Ban Chấp hành Trung ương thấy cần hoặc khi có hơn một nửa số cấp ủy trực thuộc yêu cầu. - Đại hội đảng bộ các cấp (từ cấp tỉnh và tương đương đến cấp cơ sở), do cấp ủy cùng cấp triệu tập thường lệ 5 năm một lần; có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn nhưng không quá một năm. Đại hội chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở 5 năm 2 lần, có thể triệu tập sớm hơn hoặc muộn hơn nhưng không quá 6 tháng. Đại hội thảo luận văn kiện của cấp ủy cấp trên; đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết nhiệm kỳ vừa qua; quyết định nhiệm vụ nhiệm kỳ tới; bầu cấp ủy; bầu đại biểu đi dự đại hội cấp trên. b. Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp - Ban Chấp hành Trung ương là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng giữa hai kỳ Đại hội, chịu trách nhiệm trước Đảng và nhân dân về tình hình mọi mặt của Đảng và của đất nước; 4
  5. quyết định những vấn đề chiến lược và chủ trương, chính sách lớn về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, công tác xây dựng Đảng, công tác quần chúng nhằm thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết Đại hội Đảng; tổ chức chỉ đạo thực hiện chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng nhiệm kỳ tiếp theo, Đại hội đại biểu toàn quốc bất thường (nếu có); căn cứ tình hình thực tế có thể chỉ đạo thí điểm một số chủ trương mới chưa được quy định trong Điều lệ Đảng. Ban Chấp hành Trung ương họp thường lệ sáu tháng một lần; họp bất thường khi cần. Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị; bầu Tổng Bí thư trong số Uỷ viên Bộ Chính trị; thành lập Ban Bí thư gồm Tổng Bí thư, một số ủy viên Bộ Chính trị do Bộ Chính trị phân công và một số ủy viên Ban Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương bầu trong số ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; bầu Uỷ ban Kiểm tra Trung ương; bầu Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong số Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, số lượng Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư và Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương do Ban Chấp hành Trung ương quyết định. Bộ Chính trị do Ban Chấp hành Trung ương bầu tại Hội nghị lần thứ nhất (trong thời gian Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng), có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Điều lệ Đảng là: (1) Lãnh đạo và kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương; quyết định những vấn đề về chủ trương, chính sách, tổ chức, cán bộ; (2) Quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương; báo cáo công việc đã làm trước hội nghị Ban Chấp hành Trung ương hoặc theo yêu cầu của Ban Chấp hành Trung ương. Ban Bí thư lãnh đạo công việc hằng ngày của Đảng: chỉ đạo công tác xây dựng Đảng và công tác quần chúng; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; chỉ đạo sự phối hợp hoạt động giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị; quyết định một số vấn đề về tổ chức, cán bộ và một số vấn đề khác theo sự phân công của Ban Chấp hành Trung ương; chỉ đạo, kiểm tra việc chuẩn bị các vấn đề đưa ra Bộ Chính trị thảo luận và quyết định. - Ban chấp hành đảng bộ các cấp (từ cấp tỉnh đến chi bộ) là cơ quan lãnh đạo giữa 2 kỳ đại hội ở mỗi cấp. Cơ cấu, số lượng ban chấp hành do đại hội mỗi cấp quyết định theo hướng dẫn của Trung ương. Ban chấp hành đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là cấp ủy cấp tỉnh); ban chấp hành đảng bộ huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi tắt là cấp ủy cấp huyện) là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh, đảng bộ huyện giữa hai kỳ đại hội, có nhiệm vụ: lãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu; 5
  6. nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cấp trên. Ban chấp hành đảng bộ các cấp bầu ban thường vụ; bầu bí thư, phó bí thư trong số ủy viên ban thường vụ; bầu ủy ban kiểm tra; bầu chủ nhiệm ủy ban kiểm tra trong số ủy viên ủy ban kiểm tra theo Điều lệ Đảng và hướng dẫn của cấp trên. Số lượng ủy viên ban thường vụ và ủy viên ủy ban kiểm tra do cấp ủy quyết định theo hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương. Ban thường vụ cấp ủy lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của đại hội đại biểu, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cùng cấp và cấp trên; quyết định những vấn đề về chủ trương, tổ chức, cán bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của cấp ủy. Thường trực cấp ủy gồm bí thư và các phó bí thư, có nhiệm vụ chỉ đạo kiểm tra thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy, của ban thường vụ và cấp ủy cấp trên; giải quyết công việc hằng ngày của đảng bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của ban thường vụ. Ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư cấp ủy các cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Điều lệ Đảng, quy định, hướng dẫn của Trung ương và quy chế làm việc của cấp ủy mỗi cấp. Đảng bộ Quân đội, Đảng bộ Công an Trung ương thực hiện theo Chương 6, Điều lệ Đảng. c. Ban cán sự đảng, đảng đoàn Theo quy định của Điều lệ Đảng, ban cán sự đảng được lập ở một số cơ quan hành pháp, tư pháp cấp Trung ương, cấp tỉnh. - Ở Trung ương, đảng đoàn, ban cán sự đảng do Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành lập và chỉ định nhân sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác thực hiện theo Điều lệ Đảng (Điều 42, 43), quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị[2] và quy chế làm việc của từng tổ chức; có văn phòng thực hiện công tác tham mưu, giúp việc. Hiện nay, Đảng đoàn được lập ở Quốc hội (thành phần gồm các ủy viên thường vụ Quốc hội); Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam và một số tổ chức hội ở Trung ương (gồm các đồng chí lãnh đạo và trưởng ban tổ chức của cơ quan, đơn vị, tổ chức). Ban cán sự đảng được lập ở Chính phủ (gồm Thường trực Chính phủ và một số bộ trưởng); các bộ, ngành trực thuộc Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam. - Ở cấp tỉnh, đảng đoàn, ban cán sự đảng do ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh thành lập và chỉ định nhân sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác thực hiện theo 6
  7. Điều lệ Đảng (Điều 42, 43), quy định của Ban Chấp hành Trung ương, quy định của cấp ủy tỉnh và theo quy chế làm việc của từng tổ chức. Hiện nay, đảng đoàn được lập ở hội đồng nhân dân cấp tỉnh (gồm thường trực hội đồng nhân dân), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và một số tổ chức hội cấp tỉnh (gồm các đồng chí lãnh đạo và trưởng ban tổ chức của tổ chức đó). Ban cán sự đảng được lập ở ủy ban nhân dân cấp tỉnh (gồm thường trực ủy ban nhân dân cấp tỉnh và một số thành viên ủy ban nhân dân tỉnh); viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân cấp tỉnh. 1.2. Hệ thống các đảng bộ, chi bộ a. Các đảng bộ trực thuộc Trung ương - Đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Được lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước, bao gồm 63 đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác thực hiện theo Điều lệ Đảng, quy định, hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương và quy chế làm việc do cấp ủy tự ban hành. Ngoài ra, có 05 đảng bộ khác trực thuộc Trung ương: - Quân ủy Trung ương do Bộ Chính trị chỉ định, gồm một số Ủy viên Trung ương Đảng công tác trong Quân đội và một số ủy viên Trung ương Đảng công tác ngoài Quân đội. Đồng chí Tổng Bí thư là Bí thư Quân ủy Trung ương. - Đảng ủy Công an Trung ương do Bộ Chính trị chỉ định gồm các Ủy viên Trung ương Đảng công tác trong Công an, một số Ủy viên Trung ương Đảng công tác ngoài Công an nhân dân, một số đồng chí lãnh đạo Bộ Công an, Tổng Cục trưởng các tổng cục và một số đồng chí thủ trưởng trực thuộc Bộ Công an. Từ nhiệm kỳ khóa XII của Đảng, đồng chí Tổng Bí thư tham gia Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương để phù hợp với tình hình hiện nay. - Đảng bộ thành lập theo đặc điểm riêng, bao gồm: Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương, Đảng bộ khối Doanh nghiệp Trung ương và Đảng bộ Ngoài nước được thành lập theo Khoản 2 Điều 10 Điều lệ Đảng. b. Các đảng bộ trực thuộc cấp ủy tỉnh 7
  8. - Các đảng bộ đơn vị hành chính cấp huyện: Là loại hình tổ chức đảng được thành lập theo cấp hành chính lãnh thổ, tương ứng với tổ chức hành chính cấp huyện. Hiện nay có 705 đảng bộ quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. - Các đảng bộ lực lượng vũ trang trực thuộc cấp ủy tỉnh: gồm có đảng bộ quân sự, biên phòng, công an, cảnh sát phòng cháy chữa cháy. - Các đảng bộ khối trực thuộc cấp ủy tỉnh: Đảng bộ khối các cơ quan và khối doanh nghiệp và các đảng bộ khối khác là đảng bộ trực thuộc tỉnh ủy, thành uỷ và là cấp ủy cấp trên trực tiếp của các tổ chức cơ sở đảng trong khối; được thành lập theo Khoản 2 Điều 10 Điều lệ Đảng, không tương ứng với tổ chức hành chính nhà nước, không có chính quyền cùng cấp. Cấp ủy không lãnh đạo trực tiếp, toàn diện; chỉ thực hiện một số nhiệm vụ về công tác xây dựng đảng. - Các đảng bộ doanh nghiệp nhà nước, đơn vị sự nghiệp trực thuộc cấp ủy tỉnh: Đảng bộ doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức đảng ở đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc cấp ủy tỉnh, được thành lập theo quyết định của tỉnh ủy, thành ủy. c. Các đảng bộ, chi bộ trực thuộc cấp ủy huyện và tương đương Tính đến ngày 30/9/2020 toàn Đảng có 52.125 tổ chức cơ sở đảng (24.788 đảng bộ, 27.337 chi bộ cơ sở), giảm 4.951 tổ chức cơ sở đảng so với đầu nhiệm kỳ; trực thuộc đảng ủy cơ sở có 2.487 đảng bộ bộ phận và 227.328 chi bộ. 1.3. Các cơ quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp, ban chỉ đạo, hội đồng lý luận của Đảng a. Cơ quan tham mưu, giúp việc chuyên trách của cấp ủy: Cấp ủy mỗi cấp lập các cơ quan tham mưu giúp việc theo hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương. Khi cần, cấp ủy lập tiểu ban, hội đồng, tổ công tác và giải thể khi hoàn thành nhiệm vụ. Hiện nay, ở Trung ương có 8 cơ quan tham mưu, giúp việc: Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Ban Dân vận Trung ương, Ban Đối ngoại Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Ban Kinh tế Trung ương. Các tỉnh ủy, thành ủy có 6 ban gồm: văn phòng, tổ chức, kiểm tra, tuyên giáo, dân vận, nội chính; cơ quan chuyên trách tham mưu giúp việc quận ủy, huyện ủy, thành ủy, thị ủy có 5 ban: văn phòng, tổ chức, kiểm tra, tuyên giáo, dân vận. 8
  9. b. Các đơn vị sự nghiệp của Đảng: Trung ương có 4 đơn vị sự nghiệp (Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật). Mỗi cấp ủy tỉnh có 2 đơn vị sự nghiệp (báo đảng bộ, trường chính trị). Cấp huyện có Trung tâm chính trị của cấp ủy huyện. c. Các ban chỉ đạo Trung ương: - Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Bộ Chính trị thành lập, chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong việc chỉ đạo, phối hợp, đôn đốc, kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong phạm vi cả nước theo Quy định số 32-QĐ/TW ngày 16/9/2021 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. - Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương là cơ quan tham mưu, giúp Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương chỉ đạo việc triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác cải cách tư pháp. Ban Chỉ đạo được thành lập theo Quyết định số 39-QĐ/TW ngày 19/9/2011 của Bộ Chính trị, giao Văn phòng Trung ương Đảng nhiệm vụ tham mưu, giúp việc cho Bộ phận thường trực Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương. Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII đã quyết định chuyển Văn phòng Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương về Ban Nội chính Trung ương và tổ chức lại cho phù hợp. d. Hội đồng Lý luận Trung ương: được thành lập theo Quyết định số 06-QĐ/TW ngày 30/10/1996 của Bộ Chính trị, là cơ quan tư vấn cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về các vấn đề lý luận chính trị làm cơ sở cho việc hoạch định, hoàn thiện, phát triển đường lối, chính sách của Đảng, về những chương trình, đề tài khoa học cấp nhà nước về lý luận chính trị, phục vụ trực tiếp công tác lãnh đạo của Đảng. e. Ban Bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương và cấp tỉnh: Ban Bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương được thành lập theo Quyết định số 215-QĐ/TW ngày 02/01/2020 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ cán bộ Trung ương; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác, thực hiện theo quy định của Ban Bí thư. Ban Bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập theo quyết định của ban thường 9
  10. vụ tỉnh ủy, thành ủy; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác thực hiện theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương. 2. Hệ thống tổ chức của Nhà nước 2.1. Hệ thống tổ chức của Nhà nước ở Trung ương Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Hệ thống tổ chức của nhà nước bao gồm: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, chính quyền địa phương các cấp, Tòa án nhân dân các cấp, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp, Kiểm toán Nhà nước. Các cơ quan nhà nước hoạt động theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. 2.1.1. Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước. Đại biểu Quốc hội do cử tri cả nước bầu, thực hiện nhiệm kỳ đại biểu 5 năm. Thành phần, cơ cấu đại biểu mang tính đại diện, số lượng không quá 500 đại biểu. Quốc hội có Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội; Văn phòng Quốc hội; các ban của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội. Số thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội và số Phó Chủ tịch Quốc hội, ủy viên ủy ban thường vụ Quốc hội do Quốc hội quyết định tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Quốc hội, gồm: Chủ tịch Quốc hội; các Phó Chủ tịch Quốc hội và ủy viên là Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, các chủ nhiệm ủy ban, các trưởng ban của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội làm việc theo chế độ chuyên trách. Hội đồng Dân tộc có Chủ tịch, các phó chủ tịch và các ủy viên. 9 ủy ban của Quốc hội (gồm Ủy ban Pháp luật; Ủy ban Tư pháp; Ủy ban Kinh tế; Ủy ban Tài chính, ngân sách; Ủy ban Quốc phòng và An ninh; Ủy ban Văn hóa, Giáo dục; Ủy ban Xã hội; Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường; ủy ban Đối ngoại) là các cơ quan của Quốc hội có Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm và các ủy viên. 10
  11. Văn phòng Quốc hội là cơ quan tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội. Văn phòng Quốc hội có Chủ nhiệm Văn phòng, các Phó Chủ nhiệm. Các cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm Ban Công tác đại biểu, Ban Dân nguyện, Viện Nghiên cứu lập pháp. Lãnh đạo các Ban có Trưởng ban và từ 3 - 4 Phó trưởng ban. Viện Nghiên cứu lập pháp là đơn vị sự nghiệp công lập, lãnh đạo Viện có Viện trưởng và 2 Phó viện trưởng. Các thành viên các cơ quan của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đều hoạt động theo chế độ chuyên trách. Ở địa phương có các đoàn đại biểu Quốc hội, đồng thời lập Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh là cơ quan giúp việc. 2.2.2. Chủ tịch nước, Văn phòng Chủ tịch nước Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội, là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Chủ tịch nước có những nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Chương VI, Hiến pháp 2013. Bộ Chính trị quy định về mối quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với Chủ tịch nước. Văn phòng Chủ tịch nước là cơ quan giúp việc Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước. 2.2.3. Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được tổ chức, hoạt động theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Chính phủ. Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội theo đề nghị của Chủ tịch nước. Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước. Cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ trình Quốc hội quyết định. Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm các bộ, cơ quan ngang bộ. Việc thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ do Chính phủ trình Quốc hội quyết định. Nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc 11
  12. hội hết nhiệm kỳ, Chính phủ tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khóa mới thành lập Chính phủ. Chính phủ nhiệm kỳ (2021-2026) gồm 22 bộ và cơ quan ngang bộ, 08 cơ quan thuộc Chính phủ. Ngoài các cơ quan nêu trên, còn có một số tổ chức các tổ chức phối hợp liên ngành do Thủ tướng Chính phủ hoặc Phó Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, như: Uỷ Ban Giám sát tài chính quốc gia, Hội đồng cạnh tranh 2.3.4. Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Bằng hoạt động của mình, tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác. Tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân được quy định tại Luật Tổ chức Tòa án nhân dân. Tổ chức bộ máy của hệ thống tòa án nhân dân được tổ chức theo 4 cấp: Tòa án nhân dân tối cao, tòa án nhân dân cấp cao, tòa án nhân dân cấp tỉnh và tòa án nhân dân cấp huyện; hệ thống tổ chức toà án quân sự. Tòa án nhân dân tối cao không có các tòa chuyên trách, việc thực hiện chức năng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thực hiện. Tòa án nhân dân cấp cao gồm 3 tòa án được thành lập tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, có thẩm quyền tư pháp trên phạm vi một số đơn vị hành chính cấp tỉnh, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao, ủy ban thẩm phán tòa án nhân dân cấp tỉnh trước đây và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật. Cơ cấu tổ chức bộ máy Tòa án nhân dân cấp cao gồm Ủy ban Thẩm phán tòa án nhân dân cấp cao; các tòa chuyên trách và các phòng chức năng. Tòa án nhân dân cấp tỉnh cơ cấu tổ chức gồm Ủy ban thẩm phán tòa án nhân dân cấp tỉnh, các tòa chuyên trách (gồm hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động, gia đình và 12
  13. người chưa thành niên) và bộ máy giúp việc (gồm phòng kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án; văn phòng; phòng tổ chức cán bộ, thanh tra và thi đua khen thưởng). Tòa án nhân dân cấp huyện cơ cấu tổ chức có thể có các tòa chuyên trách gồm tòa hình sự, tòa dân sự, tòa gia đình và người chưa thành niên, tòa xử lý hành chính; là cấp tòa án xét xử hầu hết các loại vụ việc theo trình tự sơ thẩm. Ngoài ra, còn có các tòa án quân sự thuộc hệ thống tòa án nhân dân. 2.2.5. Viện kiểm sát nhân dân Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân được quy định tại Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Hệ thống viện kiểm sát nhân dân được tổ chức theo 4 cấp, bao gồm: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; viện kiểm sát nhân dân cấp cao; các viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố trực thuộc thành phố trung ương; hệ thống tổ chức viện kiểm sát quân sự các cấp. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm Ủy ban kiểm sát Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và các đơn vị đầu mối cấp vụ. Tổ chức bộ máy của viện kiểm sát nhân dân cấp cao gồm có: (1) Ủy ban kiểm sát; (2) Văn phòng; (3) Các viện và tương đương. Tổ chức bộ máy của viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gồm có: Ủy ban kiểm sát; (2) Văn phòng; (3) Các phòng và tương đương. Tổ chức bộ máy của viện kiểm sát nhân dân cấp huyện gồm có văn phòng và các phòng; những nơi chưa đủ điều kiện thành lập phòng thì có các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc. Cả nước hiện có 03 viện kiểm sát cấp cao; 63 viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; 705 viện kiểm sát cấp huyện. 2.6. Kiểm toán Nhà nước 13
  14. Kiểm toán nhà nước Việt Nam là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công, giúp tài chính nhà nước minh bạch, hạn chế tham nhũng. Địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước và Tổng Kiểm toán nhà nước được quy định tại Điều 118 Hiến pháp 2013. Tổng Kiểm toán nhà nước là người đứng đầu Kiểm toán nhà nước. Tổng kiểm toán Nhà nước do Quốc hội bầu theo sự đề cử của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán nhà nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội (5 năm), có thể được bầu lại nhưng không quá 2 nhiệm kỳ. Tổng Kiểm toán nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo kết quả kiểm toán, báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp, chịu trách nhiệm và báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cơ cấu tổ chức của Kiểm toán nhà nước được chia thành 4 khối: Khối các đơn vị tham mưu gồm 7 vụ; khối các đơn vị chuyên ngành gồm 8 đơn vị; khối các đơn vị kiểm toán khu vực gồm 13 đơn vị; khối đơn vị sự nghiệp công lập có 03 đơn vị. Ngoài ra, cơ cấu tổ chức bộ máy của Kiểm toán nhà nước còn có văn phòng Đảng, đoàn thể, tương đương cấp vụ. 2.2. Chính quyền địa phương Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trừ trường hợp cụ thể Quốc hội quy định không phải là cấp chính quyền địa phương để phù hợp với đặc điểm và yêu cầu quản lý của từng đô thị. Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên. a. Hội đồng nhân dân: gồm các đại biểu hội đồng nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên; quyết định những vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân. 14